Thứ Ba, 1 tháng 10, 2013

Hôn nhân đồng tính, mách nhỏ chẳng thể “nước đôi”!.

Không riêng với Việt Nam, ở nhiều nước, việc giải quyết quan hệ hôn nhân giữa những người đồng tính cũng phải sang một lộ trình dài

Hôn nhân đồng tính, không thể “nước đôi”!

Còn khi luật không cấm nữa, mà cũng không công nhận, thì khi họ xin đăng ký thành thân, sẽ bị chính quyền khước từ. Việc bãi bỏ quy định cấm hôn phối đồng giới là cấp thiết, phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn.

Do đó, khi luật bỏ qui định cấm kết hôn đồng tính, chắc chắn sẽ là “cửa mở” để giảm bớt sự kỳ thị với người đồng tính. Ảnh: HL Tuy nhiên, không cấm thành thân giữa những người cùng giới tính, nhưng Dự luật lại cũng không thừa nhận hình thức hôn nhân này.

Trường hợp các bên không có thỏa thuận về tài sản hoặc thỏa thuận bị Tòa án tuyên bố vô hiệu thì quan hệ sở hữu về tài sản giữa họ được giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự về sở hữu riêng và sở hữu chung theo phần. Thí dụ, luật đang cấm song xin đăng ký hôn phối thì có thể bị chính quyền xử phạt.

Tức là, họ có quyền hôn phối khi không còn bị cấm? Nhưng luật lại “nước đôi”, cũng không thừa nhận quan hệ hôn nhân giữa họ, thì phải hiểu như thế nào? Nhiều chuyên gia pháp lý cho rằng, khi bị cấm, tức thị các hành vi nhằm xác lập quan hệ hôn nhân giữa những người đồng giới bị xem là hành vi vi phạm luật pháp, sẽ phải chịu bổn phận pháp lý về hành vi đó.

Đây là một duyên do rất “cũ”, bởi trước đây, khi luật pháp không “đả động” gì đến quan hệ hôn nhân của người đồng tính, lý do được đưa ra cũng là quan hệ hôn nhân này không thích hợp với văn hóa, truyền thống dân tộc.

Theo đó, quan hệ về tài sản của các cặp “vợ chồng” đồng tính cũng được giải quyết như các cặp dị tính sống chung không có đăng ký thành thân.

Nhưng cũng không thể vì quan niệm “truyền thống” này, mà pháp luật lãnh đạm với lợi quyền của những người là số ít trong từng lớp.

Thực tế cũng cho thấy, đã đến lúc pháp luật không thể “đứng ngoài” thực tiễn về quan hệ hôn nhân của người đồng tính, nên qui định thế nào để người dân hiểu và đồng thuận cần nghiên cứu kỹ.

Còn việc “không cấm, nhưng cũng không xác nhận” thì được Ban soạn thảo Dự luật lý giải căn do là chưa hợp với điều kiện, cảnh ngộ kinh tế - tầng lớp, đặc biệt là văn hóa, thuần phong mỹ tục của nước ta.

Người thực hành các công việc nội trợ trong quan hệ sống chung và chăm nom con chung được tính công sức như người trực tiếp kiến lập tài sản trong thời gian sống chung. Như vậy, so với pháp luật hiện hành, qui định của Dự thảo Luật HN-GĐ đã có sự đổi thay đáng kể về quan hệ hôn nhân của người đồng tính.

Cụ thể, nếu các bên có thỏa thuận về tài sản, thì quan hệ sở hữu về tài sản giữa họ được xác định theo thỏa thuận đó. “Cái khó” này không thể là căn do khiến Dự thảo Luật HN-GĐ cho ra đời một qui định “lơ lửng”. Tuy nhiên, vì họ chỉ chiếm số ít trong đời sống tầng lớp, nên việc bị “bao trùm, mặc định” bởi quan niệm vợ chồng phải là quan hệ giữa người nam và nữ, cũng là điều dễ hiểu.

Do đó, luật pháp là “hành lang pháp lý” để vừa bảo vệ, vừa hướng dẫn người dân thực hiện các quyền, bổn phận của mình trong khuôn khổ pháp luật. Trong điều kiện kinh tế, xã hội càng ngày càng phát triển, dân trí được nâng cao, cộng đồng người đồng tính ngày càng thông hơn về quyền lợi chính đáng của mình, nên việc họ đòi hỏi đồng đẳng với người dị tính là điều đương nhiên.

Đồng thời, Dự thảo cũng bỏ qui định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính. Khi ngay với các thành viên Ủy ban TVQH cũng thấy qui định của Dự thảo là “chưa ổn”, thì rõ ràng tính khả thi, hiệu quả khi vận dụng luật vào cuộc sống khó có thể đảm bảo.

Phương Thảo. Từ chỗ sống khép mình, giấu mình, những người đồng tình đã dần đổi thay quan niệm, công khai sống thật với bản thân, và đòi hỏi quyền đồng đẳng cho mình.

Nhiều ý kiến cho rằng, một thời gian dài cấm thành hôn đồng tính đã “vô tình” khoét sâu thêm định kiến vô lý về quan hệ đồng tính là quan hệ không bình thường, bệnh hoạn, mà thiếu đi cái nhìn khoa học.

Ngoài ra, quyền, trách nhiệm giữa các bên nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con của người đồng tính cũng được giải quyết theo các quy định chung như với người dị tính được qui định cụ thể trong Dự thảo Luật HN-GĐ. Luật HN-GĐ hiện hành cấm thành thân giữa những người đồng tính, còn Dự thảo sửa đổi bước đầu đã nhấn việc chung sống như vợ chồng giữa hai người cùng giới bằng việc bổ sung vào khoản 4 Điều 8 khái niệm “chung sống như vợ chồng” là việc hai người khác giới tính hoặc cùng giới tính thỏa thuận tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng, có tổ chức lễ cưới hoặc được gia đình một hoặc hai bên ưng.

Điều này đang khiến dư luận thấy khó hiểu, còn những người đồng tính thì “loay hoay”, bởi về nguyên tắc, người dân được làm những gì pháp luật không cấm. Một dự luật chẳng thể sửa đổi trong một sớm, một chiều, mà phải có giá trị thi hành lâu dài, thế nên “số phận” của quan hệ hôn nhân đồng tính như thế nào cần được cân nhắc và qui định rõ ràng.

Với việc tổ chức đám cưới, đây không phải là hành vi xác lập quan hệ hôn nhân về mặt pháp lý, mà chỉ là nghi tiết truyền thống, nên chính quyền sẽ không can thiệp, trừ khi việc tổ chức đám cưới gây ra những hậu quả như gây mất thứ tự công cộng… Tuy không công nhận quan hệ hôn nhân đồng giới, nhưng Dự thảo sửa đổi Luật HN-GĐ cũng đưa ra những phương án giải quyết hậu quả pháp lý của việc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng giới tính.

Tuy nhiên, việc không cấm, nhưng cũng không dấn lại là một qui định kiểu “nước đôi”, nhập nhằng, khó hiểu. Nhiều cặp đôi đồng tính vẫn đang mong được dìm hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, dù pháp luật cấm hoàn toàn quan hệ hôn nhân đồng giới, và cũng chẳng có cứ pháp lý nào giải quyết quan hệ tài sản, nhân thân, con cái… giữa họ, thì trong nhiều năm qua, quan hệ hôn nhân của người đồng tính vẫn hình thành và tồn tại, đồng thời với quan hệ hôn nhân của người dị tính.

Bên cạnh đó, việc sửa qui định về hôn nhân đồng tính cũng sẽ là cơ sở để coi xét sửa đổi, bổ sung các quy định khác liên quan, bảo đảm sự hợp nhất hệ thống luật pháp.

Trong phiên họp của Ủy ban TVQH về Dự thảo Luật HN-GĐ mới đây, Chủ nhiệm Ủy ban pháp luật Phan Trung Lý đã cho rằng “luật trước đây cấm, hiện thời không cấm tức thị người dân được làm, luật pháp phải rõ ràng, không nên quy định nửa dường như vậy”. Hôn nhân đồng giới được cho là không thích hợp thuần phong mỹ tục, truyền thống gia đình Việt Nam, không thích hợp “quy luật sinh vật học và không bảo đảm chức năng gia đình về duy trì nòi giống”, nhưng cấm hôn nhân đồng tính lại làm ảnh hưởng, thậm chí là “vi phạm” những lợi quyền cơ bản nhất của người đồng tính.

Vì luật pháp điều chỉnh hành vi của từng lớp, đã tạo nên cách ngó về hôn nhân đồng tính theo hướng những gì pháp luật cấm là xấu, là sai trái. Một qui định pháp luật được ra đời là nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể trong tầng lớp. Thực ra, là một con người, một công dân, người đồng tính cũng có các quyền như với người dị tính. Để việc thực hiện pháp luật được nghiêm minh, thì phải có một “khuôn khổ” rõ ràng, dễ hiểu, dễ ứng dụng.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét